Nắng chiều rớt xuống mái phố Cần Thơ một màu vàng úa, ấy vậy mà trong gian buồng nhỏ sau tiệm thuốc Bắc, ba con người như bị dội cả gáo nước đá. Cường ngồi bật dậy trên bộ ván, tay theo phản xạ chộp lấy con dao găm cán sừng giấu dưới gối. Vết chém bên sườn còn nhức buốt khi chàng cử động mạnh, nhưng nỗi đau ấy chẳng thấm gì so với cái lạnh chạy dọc sống lưng khi nghe hai tiếng "gần tới đây rồi" của thằng Đậu.
Thầy Cảnh đặt cân thuốc xuống, thở ra một hơi dài. Ông không hốt hoảng như hai đứa trẻ. Bàn tay gầy guộc của ông lang già đã trải bao mưa gió cuộc đời chỉ khẽ vuốt chòm râu bạc, đôi mắt sâu ánh lên sự tính toán lạnh lùng.
— Bình tĩnh. — Ông nói, giọng nhỏ mà chắc. — Nó chưa biết chắc con ở đây. Nó đi lần từng tiệm, tức là nó cũng còn mò mẫm. Nếu mình rối, mình chết.
Ông quay sang Cường, ánh mắt dừng lại nơi con dao trong tay chàng:
— Cất cái đó đi. Bây giờ không phải lúc dùng dao. Dùng dao là lộ, là chết cả đám. Con nghe lời ta.
Cường nuốt nước bọt. Chàng vốn không sợ đấm đá, sợ nhất là cái cảm giác bị dồn vào một xó không có đường lui, lại kéo theo ân nhân vô tội. Chàng gật đầu, đút dao vào lưng quần, giọng khàn:
— Thầy... thầy cứ chỉ con phải làm gì.
Thầy Cảnh không đáp ngay. Ông bước ra gian giữa, đảo mắt một vòng, rồi trở vào, kéo tấm chiếu rách nơi góc buồng qua một bên. Dưới lớp chiếu là mấy tấm ván lát khít nền đất. Ông cạy lên một tấm, để lộ một cái miệng hầm vuông vức chỉ vừa lọt một người. Dưới đó tối om, xộc lên mùi thảo dược ẩm nồng đặc quánh.
— Hầm chứa sâm quế, dược liệu quý ta để tránh ẩm. — Ông nói nhanh. — Chật lắm, ngồi thu mình được thôi. Con xuống đó. Xuống rồi thì im như thóc, dù nghe gì trên này cũng đừng cựa quậy. Nghe rõ chưa?
Cường men theo miệng hầm tụt xuống. Vết thương bên sườn giật lên từng cơn khiến chàng phải cắn răng. Dưới hầm sâu chừng nửa người, chàng ngồi thu lu giữa những bó rễ khô và thúng dược liệu, bốn bề tối mịt. Thầy Cảnh nhìn xuống, dặn khẽ:
— Có chuyện gì cũng đừng lên. Ta lo được.
Rồi ông lát tấm ván trở lại, kéo chiếu phủ lên, xếp thêm hai cái thúng đựng cam thảo đè lên trên cho tự nhiên. Xong xuôi, ông ngồi vào chỗ thái thuốc quen thuộc, cầm con dao cầu lên, bắt đầu thái từng lát đương quy đều đặn như chưa từng có chuyện gì. Ông hất hàm bảo thằng Đậu:
— Con ra trước quét dọn, có ai vô thì cứ đon đả như thường. Nhớ, mặt mày phải tỉnh. Run là chết.
*
Sáu Thẹo tới cửa tiệm khi nắng đã ngả hẳn về tây, bóng người đổ dài trên nền gạch. Gã bước vào, dáng đi khật khưỡng, tay ôm ngang lưng làm ra vẻ nhọc nhằn. Bộ đồ bà ba đen của gã bám bụi đường, gương mặt chằng chịt những nếp cứng cỏi, đôi mắt hung tợn đảo một vòng khắp gian tiệm như con chim ưng dò mồi.
— Ê nhỏ. — Gã cất giọng khàn đục với thằng Đậu. — Tiệm này bán thuốc trị đau lưng hôn? Tao khiêng đồ nặng, cái lưng nó nhức muốn gãy.
Thằng Đậu, tuy tim đập thình thịch, vẫn ráng nở nụ cười:
— Dạ có chớ chú. Chú ngồi đợi con thưa ông con ra hốt thuốc cho.
Thầy Cảnh đặt dao cầu xuống, chậm rãi ngước lên. Chỉ trong một tích tắc đảo mắt, ông đã ghi hết vào lòng: cái nhìn không phải của kẻ đau lưng đi mua thuốc, mà là cái nhìn soi mói từng ngăn tủ, từng khe cửa; và trên cẳng tay gã, khi gã đưa lên gãi cổ, lộ ra một vết sẹo dài trắng nhợt chạy dọc từ cổ tay lên khuỷu — đúng như thằng Đậu từng tả về kẻ dò la. Ông lang già chỉ khẽ nhíu mày, rồi lại niềm nở như bao lần tiếp khách:
— Anh ngồi đi. Đau lưng thì tôi bốc cho ít độc hoạt, tang ký sinh, thêm chút đỗ trọng. Uống vài thang là dịu.
— Ừ. — Sáu Thẹo ngồi phịch xuống ghế, mắt vẫn không rời khỏi gian trong. — Tiệm ông vắng khách quá hen. Nhà có mình ông với thằng nhỏ thôi à?
— Còn ai nữa đâu anh. — Thầy Cảnh cười hiền, tay vẫn thoăn thoắt bốc thuốc. — Vợ tôi mất lâu rồi, con cái tứ tán, chỉ còn thằng cháu nội hủ hỉ.
Sáu Thẹo hừ một tiếng trong cổ họng. Gã đứng dậy, làm bộ ngó nghiêng mấy tủ thuốc, tay gõ gõ vào vách ván nghe thử.
— Tui hỏi thiệt nghe ông. — Gã hạ giọng, ánh mắt bỗng sắc lạnh. — Mấy bữa nay trong phố có thằng nào bị thương nặng ghé ông chích thuốc hôn? Thằng trai trẻ, chừng mười tám đôi mươi, người rắn rỏi, dính miểng dao ở sườn?
Dưới hầm, Cường nghe rõ mồn một từng lời. Máu trong người chàng như đông cứng lại. Chàng nín thở, một tay bấu chặt lấy thúng dược liệu, một tay đè lên vết thương bên sườn — nó lại giật đau như để nhắc chàng nhớ cái đêm mưa rừng tràm. Chàng nghe cả tiếng bước chân của gã đâm thuê nện trên nền ván ngay trên đầu mình, mỗi bước một nặng nề.
Thầy Cảnh vẫn không đổi sắc mặt. Ông ngừng tay, làm ra vẻ ngẫm nghĩ, rồi lắc đầu:
— Trai trẻ bị dao à? Không có. Mấy bữa nay chỉ có bà Chín xóm Cầu Kè tới hốt thuốc ho, với ông Tám bán cá bị bong gân. Còn thằng trai bị dao... anh mà nói vậy tôi cũng sợ. Chắc lại tụi giang hồ chém nhau chớ gì. Anh tìm nó làm chi?
— Người nhà. — Sáu Thẹo đáp cụt lủn, mắt liếc về phía tấm chiếu rách nơi góc buồng. Gã bước tới, mũi giày hất nhẹ vào cái thúng cam thảo. — Cái buồng trong này chứa gì đó ông?
Tim thằng Đậu như rớt xuống bụng. Nó vội chạy lại, giọng líu ríu nhưng cố tự nhiên:
— Dạ buồng đó bỏ không hà chú. Ông con để mấy thúng cam thảo với củi thôi. Ẩm mốc lắm, chú vô làm chi cho hôi.
Sáu Thẹo vén tấm chiếu lên. Bên dưới là mấy tấm ván lát, phủ bụi và mạng nhện — thầy Cảnh đã tính trước, mấy hôm trước ông cố ý giăng cho vài sợi tơ nhện, rắc lớp bụi mỏng lên nắp hầm để trông như lâu ngày không ai đụng tới. Gã lấy chân đá thử một cái, ván kêu bồm bộp như bên dưới là nền đất chắc. Gã cúi xuống, đưa vết sẹo trên tay ra sát tấm ván, ngờ vực dò xét.
Dưới hầm, Cường ngồi cách chỗ gã đứng chỉ chừng một sải tay, cách nhau đúng một lớp ván mỏng. Chàng nghe hơi thở nặng nề của kẻ thù ngay trên đỉnh đầu. Trong bóng tối, tay chàng lại lần xuống chuôi dao cán sừng. Nếu gã cạy nắp hầm ra, chàng sẽ phóng lên đâm trước — dù có chết cũng không để bị bắt sống lãnh cái thứ nhục nhã kia. Nhưng lời thầy Cảnh vẫn vang trong đầu: "Dùng dao là lộ, là chết cả đám." Chàng nghiến răng, buông chuôi dao ra, gồng mình chịu đựng.
Thầy Cảnh chậm rãi bước tới sau lưng Sáu Thẹo, tay cầm gói thuốc đã bọc lá chuối, giọng vẫn ôn tồn mà có sức trấn:
— Thuốc của anh bốc xong rồi nè. Ba thang, mỗi ngày một thang, sắc ba chén còn tám phân. Có sáu cắc thôi. Anh coi cái buồng đó chi cho hư áo, bụi bặm. Trong này tôi bán thuốc chớ có giấu vàng đâu mà lục.
Câu nói nửa đùa nửa thật khiến Sáu Thẹo khựng lại. Gã đứng thẳng dậy, phủi tay, quay lại nhìn ông lang già một lượt từ đầu tới chân. Ánh mắt hai người chạm nhau. Thầy Cảnh không né tránh, cũng không thách thức, chỉ điềm nhiên như mặt nước ao tù. Rốt cuộc gã đâm thuê là kẻ đi dò, chưa nắm được gì trong tay, mà cái tiệm này thì cũ kỹ, hôi mùi thuốc, ông già thì hiền lành lụ khụ — chẳng có mảy may dấu vết nào của một chàng trai trẻ bị thương.
— Sáu cắc hén. — Gã móc trong túi ra mấy đồng xu, ném xuống mặt bàn. — Thôi, cảm ơn ông. Có thằng nào như tao nói ghé thì ông nhớ mặt giùm. Tao trọng thưởng.
— Được, được. — Thầy Cảnh gật đầu, thu tiền. — Có gì tôi báo anh.
Sáu Thẹo cầm gói thuốc, đi ra cửa. Tới ngưỡng cửa, gã bỗng dừng lại, ngoái đầu nhìn vào gian trong lần cuối, ánh mắt như dao cứa. Rồi gã khật khưỡng bước xuống bậc thềm, hòa vào dòng người tan chợ, bóng dần khuất sau góc phố.
*
Thầy Cảnh đứng lặng nơi bậu cửa một lúc lâu, chờ cho chắc gã đã đi xa, mới quay vào khép hờ hai cánh cửa gỗ, cài then. Ông kéo thúng cam thảo, gỡ chiếu, cạy nắp hầm lên. Cường chui ra, mặt tái mét, mồ hôi vã đầm đìa dù dưới hầm lạnh. Chàng ngồi thụp xuống nền, thở dốc, một tay ôm sườn.
— Trời đất quỷ thần ơi... — Chàng lắp bắp. — Con tưởng phen này...
— Suỵt. — Thầy Cảnh khoát tay, giọng trầm xuống. — Chưa hết đâu con. Nó đi rồi nhưng lòng nó chưa yên. Ta nhìn cái mắt nó là biết. Kẻ săn mạng người mà, nó ngờ chỗ nào là nó rình chỗ đó. Bữa nay nó không tìm được, mai mốt nó còn quay lại. Mà nó quay lại lần sau thì ta không chắc gạt được nữa.
Cường ngước lên nhìn ân nhân, trong lòng ngổn ngang. Chàng biết ông nói phải. Chàng ở lại đây một ngày là ông lang già nhân hậu này gánh thêm một ngày hiểm nguy. Lỡ Sáu Thẹo lục ra được, thì không chỉ chàng mất mạng, mà thầy Cảnh với thằng Đậu cũng vạ lây vì tội chứa chấp kẻ bị truy nã.
— Con phải đi thôi thầy. — Cường nói, giọng nghẹn lại. — Con không thể để thầy vì con mà mang họa. Ơn cứu mạng này con... con chưa biết lấy gì báo đáp.
Thầy Cảnh ngồi xuống bộ ván bên cạnh chàng, thở dài. Ánh đèn dầu vừa được thằng Đậu thắp lên hắt bóng hai người lên vách ván.
— Ta cũng tính vậy. — Ông nói. — Nhưng con đi đâu bây giờ? Vết thương chưa lành hẳn, đi đường xa là chết. Ở phố thì tụi nó rình. Phải kiếm một chỗ vừa kín, vừa có người chăm cho con nghỉ ngơi ít bữa nữa cho lại sức.
Ông ngừng một lát, chòm râu bạc rung khẽ, rồi nói tiếp:
— Ta có quen một chỗ. Ngoài ngoại ô Cần Thơ, có điền sản của bà Phủ Hạnh — vợ goá của một ông phủ, giàu có bậc nhất vùng này, coi mấy trăm mẫu ruộng với một cái nhà máy xay lúa lớn. Bà ấy hay đau bao tử, mấy năm nay ta vẫn lui tới bốc thuốc, cắt thuốc bổ cho bà. Người nhân hậu, biết điều. Đất điền của bà rộng thênh thang, người ăn kẻ ở đông, thiếu người làm. Con vô đó làm thuê, vừa có chỗ ẩn, vừa có miếng ăn. Tụi Sáu Thẹo là dân giang hồ chợ búa, làm sao dám mò vô điền sản nhà quan phủ mà lục soát.
Cường nghe mà lòng dấy lên một tia hy vọng, nhưng cũng dè dặt:
— Người ta có chịu chứa một thằng lạ hoắc như con không thầy? Lỡ người ta hỏi lai lịch...
— Chuyện đó để ta lo. — Thầy Cảnh đứng dậy, bước tới cái tủ, lấy ra tờ giấy bản với nghiên mực. — Ta viết cho con một phong thư gửi gắm. Ta nói con là cháu họ xa của ta, quê ở dưới lên, hiền lành chịu khó, chẳng may bị cướp chém trọng thương dọc đường, nay lành lại muốn kiếm chỗ làm ăn. Ta bảo lãnh. Bà Phủ Hạnh nể ta, sẽ nhận con.
Ông vừa nói vừa mài mực, rồi cầm bút lông chấm mực, nắn nót viết. Cường ngồi nhìn ân nhân, cổ họng nghèn nghẹn. Cha chàng mất sớm, chàng chưa từng biết cái cảm giác được một người đàn ông lớn tuổi che chở, lo lắng cho mình đến vậy. Ông lang già này chẳng bà con ruột thịt, chẳng nợ nần gì chàng, vậy mà liều cả tính mạng cứu chàng, dưỡng chàng, giờ còn lo cho chàng chỗ nương thân.
Viết xong, thầy Cảnh gấp thư, gói vào miếng lá chuối cho khỏi ướt, dúi vào tay Cường. Ông còn lấy thêm một gói nhỏ:
— Đây là thuốc, ta gói sẵn mười thang. Con nhớ mỗi ngày sắc một thang mà uống cho vết thương liền da hẳn. Còn cái này... — Ông rút trong túi áo ra mấy đồng bạc, mấy cắc lẻ, ấn vào tay chàng — ...cầm lấy phòng thân. Đừng chối. Ở đời, có lúc mấy cắc bạc cứu được cái mạng.
— Thầy... — Cường quỳ sụp xuống, hai hàng nước mắt lăn dài trên gương mặt bánh mật. — Con... con lạy thầy. Ơn này con khắc cốt ghi tâm. Có ngày con làm nên, con nhất định trở lại báo đáp thầy. Con thề trước trời đất.
Thầy Cảnh vội đỡ chàng dậy, giọng nghiêm mà ấm:
— Đứng lên. Đàn ông con trai đừng quỳ lạy dễ dàng, để dành cái gối mà quỳ trước những chuyện đáng. Ta cứu con không phải để con trả ơn, mà vì cái mạng người đáng cứu. Con nhớ lời ta dạy mấy bữa nay: sống cho phải đạo, đừng để cái nóng, cái háo thắng dắt mũi mà gây thêm nghiệp. Được vậy là con báo đáp ta rồi.
Ông quay sang thằng Đậu đang đứng nép bên cửa:
— Đậu, con lấy chiếc ghe nhỏ ra bến sau. Chèo cho anh con đi ngay đêm nay, đường sông tránh phố, tránh đường cái. Con đưa anh tới bến điền sản bà Phủ Hạnh rồi trao thư cho người quản gia. Xong việc con về liền, đừng nấn ná.
*
Đêm đó, trời không mưa nhưng gió sông thổi lành lạnh. Một vầng trăng khuyết treo lơ lửng trên rặng bần ven bờ. Chiếc ghe nhỏ của thằng Đậu lặng lẽ rời bến sau tiệm thuốc, len theo con rạch tối om, tránh xa ánh đèn phố. Mái chèo khua nước khe khẽ, để lại những vòng sóng loang trong ánh trăng bạc.
Cường ngồi ở khoang giữa, tay ôm gói thuốc và phong thư áp vào ngực. Vết thương bên sườn còn ê ẩm mỗi khi ghe tròng trành, nhưng chàng gần như quên nó. Chàng ngoái nhìn về phía tiệm thuốc Bắc đã khuất sau khúc quanh — nơi bóng người ân nhân râu bạc còn đứng lặng bên bậu cửa dõi theo, tay khẽ giơ lên như tiễn biệt. Lòng chàng dâng lên một nỗi biết ơn nghẹn ngào lẫn nỗi buồn ly biệt. Bao nhiêu người tốt đã đi qua đời chàng kể từ ngày rời quê — chú Bảy Ghe, bà Sáu Mắm, thầy Đội Khôi, giờ là thầy Cảnh — mỗi người cho chàng một chút hơi ấm rồi lại lùi vào phía sau, để chàng một mình đi tiếp con đường trốn chạy không biết đâu là bến.
— Anh Cường ơi. — Thằng Đậu vừa chèo vừa nói khẽ. — Cái điền sản bà Phủ Hạnh lớn lắm anh. Ruộng thẳng cánh cò bay. Anh vô đó tha hồ làm ăn, khỏi lo tụi kia. Mà nghe nói bà Phủ Hạnh đẹp lắm nghen, đẹp mà goá bụa, chưa tới bốn chục...
Cường bật cười khẽ, xoa đầu thằng nhỏ:
— Cái thằng, con nít mà cũng để ý ba cái đó. Anh vô làm thuê thôi, dòm dỏ chi tới bà chủ.
Nhưng trong bụng chàng, một cảm giác mơ hồ khó gọi tên chợt dấy lên. Chàng chưa biết mặt mũi bà Phủ Hạnh ra sao, chưa biết điền sản kia phúc họa thế nào, chỉ biết đêm nay lại là một khúc rẽ nữa trên hành trình lang bạt. Ghe cứ thế trôi trong đêm, xuôi theo dòng nước lặng, hướng về phía ánh đèn lờ mờ của một cơ ngơi lớn hiện dần lên nơi cuối con rạch, giữa những vườn cây rậm rạp trải dài tới chân trời.
Còn phía sau, trong một quán rượu tối om nơi cuối phố Cần Thơ, Sáu Thẹo ngồi trầm ngâm bên chén rượu đế, gói thuốc trị đau lưng ném lăn lóc trên bàn. Gã đưa bàn tay có vết sẹo dài lên vuốt cằm, lẩm bẩm một mình:
— Cái ông thầy thuốc đó... hiền quá mức hiền. Cái buồng đó... hình như...
Gã nhấp một ngụm rượu, đôi mắt hung tợn nheo lại trong bóng tối.