Chương 24: Bàn tay cứu mạng

Sương giăng mờ mặt nước lúc rạng đông, đặc quánh như khói bếp, phủ lên dòng sông đục ngầu một tấm màn trắng xám lạnh lẽo. Chiếc ghe con của thầy thuốc Cảnh rẽ nước lách chách, mũi ghe khua vào những cụm lục bình dạt sát bờ. Ông lang già ngồi ở lái, tay chèo khoan thai, mắt lim dim theo thói quen mấy chục năm đi hái thuốc sớm. Thằng cháu tên Đậu, mười sáu tuổi, gầy nhom, ngồi ở mũi ghe vừa ngáp vừa dụi mắt. Bỗng thằng nhỏ giật thót, chỉ tay ra mé bến hoang. — Ông ơi! Ông ơi, có người! Có người nằm dưới bãi lau kìa! Thầy Cảnh gác chèo, nheo cặp mắt kèm nhèm nhìn theo. Quả nhiên, giữa đám ô rô và lau sậy um tùm nơi bến nước bỏ hoang, một thân người nằm sấp, nửa vùi trong bùn, nửa ngâm dưới mé nước. Áo bà ba đen rách bươm, bết máu lẫn bùn. Một cánh tay duỗi thẳng ra, bàn tay vẫn nắm chặt một vật gì đó ánh lên trong sương sớm. — Trời đất quỷ thần… — ông lang lẩm bẩm, vội cắm sào cho ghe áp vào bờ. — Đậu, coi chừng trơn. Xuống phụ ông một tay. Hai ông cháu lội xuống bùn nhão tới bắp chân, hì hục lật thân người kia ngửa lên. Là một chàng trai còn rất trẻ, da bánh mật, vai rộng, gương mặt tuấn tú giờ tái nhợt như sáp, môi tím ngắt. Bên sườn phải, dưới lớp áo rách, một vết chém dài toác miệng, thịt vén ra, máu đã đông đen lẫn bùn đất, quanh mép vết thương sưng đỏ tấy, bốc lên cái mùi tanh nồng khó chịu. Thầy Cảnh sờ lên trán chàng trai, rụt tay lại như chạm phải than. — Nóng như hòn than vùi. Sốt cao lắm rồi. Vết chém này để qua đêm mưa, nhiễm độc mất rồi… — Ông đặt ngón tay lên cổ chàng, nín thở dò mạch. Một lúc lâu, ông thở hắt ra. — Còn… còn thở. Mạch yếu như tơ nhện, nhưng còn. Đậu ngồi thụp xuống, mặt xanh lét khi thấy máu: — Ông… mình cứu người ta hả ông? Ông lang không đáp ngay. Ánh mắt ông chợt dừng lại nơi bàn tay chàng trai đang nắm chặt. Ông gỡ mãi mới hé được mấy ngón tay cứng đờ ra — một con dao găm nhỏ, cán bằng sừng đã lên nước bóng loáng, lưỡi dao còn dính máu. Loại dao của dân giang hồ, của kẻ liều mạng. Thầy Cảnh chợt gai người. Cái vết chém sâu hoắm này không phải do té ghe hay tai nạn thường tình. Đây là vết dao chém của kẻ săn người. Và chàng trai mê man kia, hẳn là kẻ đang bị truy đuổi. Ruột gan ông lang bỗng rối bời. Cả đời làm thầy thuốc, ông chưa từng từ chối cứu ai. Nhưng lần này khác. Cứu một kẻ bị người ta lùng giết, chẳng khác nào rước họa vào thân. Ai biết được sau lưng gã này là ân oán gì, là thế lực nào? Nhà chỉ có hai ông cháu, lỡ dây dưa thì mạng già này chẳng đáng, chứ thằng Đậu còn cả tương lai… Ông toan đứng dậy, buột miệng: — Thôi… mình cứ để người ta lại đây, đi báo lý hương… Nhưng vừa nói dứt câu, ông lại cúi xuống nhìn gương mặt chàng trai. Trong cơn sốt mê man, hai hàng lông mày rậm của chàng vẫn chau lại đầy đau đớn, khóe mắt rịn ra một giọt nước mắt lăn dài qua thái dương lấm bùn. Rồi đôi môi tím tái khẽ mấp máy, thều thào những âm thanh đứt quãng, như đang gọi ai đó, như đang van xin điều gì. Thầy Cảnh lặng người. Ông đã ngoài năm mươi, tóc bạc quá nửa, đã chôn cất cả vợ lẫn con trai vì bệnh tật nghèo hèn, chỉ còn lại thằng cháu côi cút. Ông hiểu hơn ai hết cái ranh giới mong manh giữa sống và chết, hiểu cái đáng sợ nhất của con người ta không phải là chết, mà là chết trong sự bỏ mặc của đồng loại. — … Không được. — Ông lắc đầu, tự nói với chính mình, giọng khàn đặc. — Người ta còn thở mà bỏ mặc, thì cái nghề thuốc của tao mấy chục năm nay còn nghĩa lý gì. Đậu, khiêng nó lên ghe. Nhanh lên con! — Ông không sợ hả ông? — thằng nhỏ run run hỏi. — Sợ. Ông sợ chớ. — Ông lang cười khổ, luồn tay đỡ vai chàng trai. — Nhưng ông càng sợ hơn cái ngày ông xuống dưới kia gặp lại ba con, mà không dám nhìn thẳng vào mắt nó. Nào, đỡ chưn nó lên. Hai ông cháu gắng sức khiêng cái thân người nặng trịch, ướt sũng lên đặt vào lòng ghe. Thầy Cảnh vơ vội mấy bó lá thuốc vừa hái, mấy tấm bao bố đắp lên che cho chàng trai bớt lạnh, lại lấy khăn thấm nước sông lau bớt bùn máu quanh vết thương. Con dao găm, ông định gỡ ra bỏ riêng, nhưng bàn tay chàng trai như có linh tính, cứ siết chặt lấy nó không rời, dẫu mê man vẫn chẳng chịu buông. Ông đành để yên. — Thôi kệ. Vật gì mà nó quý dữ vậy không biết. — Ông lẩm bẩm, cầm chèo. — Đậu, chèo phụ ông. Về mau kẻo trời sáng, người ta thấy thì phiền. Ghe rẽ sương xuôi dòng. Được một quãng, khi mặt trời đã ló lên sau rặng dừa nước, nhuộm mặt sông một màu hồng nhạt, thì từ phía một khúc quanh, có tiếng người í ới vọng lại. — Ê! Ghe kia! Ghe kia đứng lại coi! Thầy Cảnh giật mình ngoảnh nhìn. Trên bờ, hai gã đàn ông lấm lem bùn đất từ đầu tới chân đang lội bì bõm ra mé nước, tay lăm lăm mã tấu. Một gã cao lớn, mặt mày dữ dằn, trên cánh tay trần có một vết sẹo dài chạy dọc. Gã kia gầy nhom, râu ria xồm xoàm, mặt xám ngoét vì lạnh và mất ngủ. Chính là Sáu Thẹo và Tài Xồm — hai kẻ suốt đêm lùng sục hai bờ sông không ngơi nghỉ. Bụng thầy Cảnh thót lại. Ông liếc nhanh xuống lòng ghe. Chàng trai vẫn nằm mê man dưới đống lá thuốc, một góc bao bố hở ra để lộ mảng áo đen bết máu. Nhanh như cắt, ông lấy chân khỏa thêm mấy bó lá đè lên, rồi nạt khẽ thằng cháu: — Đậu, ngồi im. Đừng có run. Để ông nói. Ghe từ từ áp vào bờ theo lệnh. Sáu Thẹo lội ra, một tay chống nạnh, một tay cầm mã tấu gõ gõ vào be ghe, cặp mắt hung tợn quét khắp khoang. — Ông già đi đâu sớm dữ vậy? Thầy Cảnh gãi đầu, làm bộ hiền lành khúm núm: — Dạ thưa mấy cậu, tui là thầy thuốc trên chợ, đi hái thuốc sớm về. Có chi hôn mấy cậu? — Đêm qua ông có thấy thằng nào bị thương lội sông trốn không? — Sáu Thẹo hất hàm, mắt vẫn dán vào đống lá thuốc. — Thằng trai trẻ, cỡ mười tám hai chục, cao ráo, biết võ. Nó phạm án mạng ở Rạch Giá, trốn xuống dưới này. Ai chỉ được chỗ nó, có thưởng năm chục đồng bạc. Năm chục đồng bạc! Một số tiền lớn đủ cho hai ông cháu sống thong dong cả năm. Tài Xồm thấy ông lang khựng lại, tưởng bở, chồm tới: — Đó, ông thấy chưa. Bắt được nó, hoặc chỉ chỗ nó núp, là ông giàu tới già. Ông mà giấu, tụi tui biết được thì đừng trách. Thầy Cảnh làm bộ mắt sáng rỡ, chép miệng tiếc rẻ: — Trời đất, năm chục đồng lận hả cậu! Tui mà gặp thì tui hô làng bắt liền chớ dại gì. Nhưng mà… — Ông lắc đầu thườn thượt. — Suốt sáng giờ tui chèo dọc con rạch bên kia hái rễ tranh với lá tràm, có thấy ma nào đâu. Mà nghe mấy cậu nói tui rởn óc, thằng đó biết võ mà còn bị chém trọng thương, chắc chạy tuốt lên vàm trên rồi. Đêm qua nước lũ chảy xiết, xác trôi cả cây số là thường. Sáu Thẹo nhíu mày, cặp mắt sắc lẹm vẫn chưa buông tha đống lá trong khoang. — Đống gì đây? — Gã lấy mũi mã tấu khều khều mấy bó lá thuốc. Tim thầy Cảnh như ngừng đập. Nhưng ngoài mặt ông vẫn tỉnh bơ, còn kéo hẳn một bó lá đưa lên tận mũi Sáu Thẹo: — Lá thuốc chớ chi cậu. Cậu ngửi coi, hôi rình hà. Đây nè, cái này là lá vông với rễ cỏ tranh, còn kia là mớ lá tràm với ô rô. Tui hái về sắc thuốc ghẻ, thuốc lậu cho mấy bà mấy cô ngoài chợ. Cậu cần thuốc gì hôn, tui biếu, coi như làm phước. À mà cậu coi bộ mệt mỏi quá, hay để tui bắt mạch cho, kẻo đêm qua dầm mưa cảm lạnh sanh bệnh… Vừa nói ông vừa với tay như định nắm cổ tay Sáu Thẹo. Gã đâm thuê nhăn mặt vì cái mùi hắc nồng của đám lá, lại thấy ông già lải nhải lôi thôi, phát bực, hất tay ra: — Thôi thôi, đi đi! Ông già lắm chuyện. — Rồi gã quay sang Tài Xồm, cằn nhằn. — Cái thằng ôn dịch đó chắc trôi tuốt xuống dưới thiệt rồi. Đi, lội xuống vàm dưới coi, mắc công ở đây nghe ông già này tụng kinh. Tài Xồm co ro vì lạnh, gật lia lịa: — Ừ, đi lẹ đi anh Sáu, em đói meo rồi nè. Ông già đó có gì đâu, một già một con nít, giấu người ta chỗ nào. Hai gã lội trở lên bờ, xăm xăm đi ngược về phía thượng nguồn. Thầy Cảnh chống sào đẩy ghe ra giữa dòng, tay run lẩy bẩy, mồ hôi túa ra ướt cả lưng áo dù trời còn lạnh. Đợi cho hai bóng người khuất hẳn sau rặng bần, ông mới dám thở phào, giọng còn chưa hết run: — Amitofo… Suýt chút nữa. Đậu, chèo lẹ về con. Thằng Đậu mặt cắt không còn giọt máu, líu ríu chèo. Được một đỗi, nó mới dám hỏi nhỏ: — Ông ơi, người này… phạm án mạng thiệt hả ông? Ghê quá. Thầy Cảnh nhìn xuống chàng trai vẫn hôn mê dưới đống lá, thở dài: — Ông chưa biết. Người ta nói vậy thì hay vậy. Nhưng mà con nhớ nè, ở đời, kẻ đi lùng giết người khác chưa chắc đã là người ngay, mà kẻ bị lùng giết chưa chắc đã là kẻ gian. Con coi cái mặt nó đi. — Ông chỉ vào gương mặt tuấn tú tái nhợt của Cường. — Tướng mạo đường hoàng, không phải phường trộm cướp đâu. Cứu được thì cứu. Còn nó là ai, sau này tự nó nói. * Về tới tiệm thuốc Bắc nằm khuất trong con hẻm nhỏ ven ô Cần Thơ, hai ông cháu vội vàng đóng cửa trước, khiêng Cường vào buồng trong, đặt lên bộ ván gõ. Cái tiệm chỉ có một gian ngoài bày tủ thuốc nhiều ngăn, cân tiểu ly, thớt thái thuốc, mùi thảo dược nồng đượm quanh năm; gian trong là chỗ ăn ngủ của hai ông cháu, kê thêm bộ ván cho bệnh nhân nằm lại. Thầy Cảnh xắn tay áo, sai thằng Đậu nhóm lửa nấu nước sôi, còn mình thì lấy kéo cắt bỏ lớp áo rách bết máu quanh vết thương. Khi mảng thịt toác miệng phơi ra dưới ánh đèn dầu, ông lang lắc đầu: — Nặng. Vết chém sâu tới gần xương sườn, lại nhiễm độc rồi. Trễ chút nữa là mất mạng. Ông pha nước muối ấm với nước sắc kim ngân, tỉ mỉ rửa sạch bùn đất, máu mủ trong vết thương. Chàng trai dù mê man vẫn rên lên từng chặp, thân người giật lên vì đau. Rửa xong, ông lấy ra cây kim với sợi chỉ gai đã hơ lửa, luồn qua mép thịt, cẩn thận khâu lại từng mũi. Bàn tay già nua run run mà đường kim vẫn đều đặn, khéo léo — cái khéo của mấy chục năm cứu người. Khâu xong, ông rịt lên vết thương một lớp thuốc bột màu vàng nghệ để cầm máu tiêu độc, rồi băng lại bằng vải xé. Đoạn ông xuống bếp, tự tay bốc thuốc, sắc một thang giải độc thối nhiệt, chắt lấy nước, để nguội bớt rồi vành miệng chàng trai đổ từng thìa. Cả buổi trưa, Cường vẫn nằm bất động, cơn sốt càng lúc càng cao. Gương mặt chàng khi đỏ bừng khi tái mét, mồ hôi vã ra như tắm, miệng lảm nhảm những lời mê sảng đứt quãng. Thầy Cảnh ngồi bên, liên tục nhúng khăn nước lạnh đắp lên trán chàng, thay hết khăn này tới khăn khác. Bàn tay Cường suốt từ sáng đến giờ vẫn nắm khư khư con dao găm cán sừng, dẫu ông có thử gỡ mấy lần cũng không được. Chiều tà, ánh nắng nhạt xuyên qua khe cửa chiếu lên gương mặt chàng trai. Cơn sốt lên tới đỉnh. Cường bỗng cựa quậy dữ dội, tay chân khua khoắng như đang chống trả, đang chạy trốn, đang ngã xuống. Rồi từ đôi môi khô nứt, chàng bật ra những tiếng gọi khản đặc, đứt quãng mà rõ mồn một: — Sương… Sương ơi… chạy đi… chạy đi em… Sương… Thầy Cảnh đang bưng chén thuốc, khựng lại. Ông lắng tai. Chàng trai lại rên rỉ, giọng nghẹn ngào như sắp khóc: — … Má ơi… con lạy má… con có tội… Sương ơi, đợi anh… anh về đón em… Ông lang lặng người đặt chén thuốc xuống. Trong cơn mê sảng của kẻ tưởng chừng đã một chân bước xuống suối vàng kia, không có sự hung tợn của phường đâm thuê chém mướn, không có cái tàn bạo của kẻ giết người. Chỉ có nỗi đau xé lòng của một đứa con nhớ mẹ, của một chàng trai nhớ người thương. Chỉ có sự day dứt, ăn năn. Thầy Cảnh vuốt nhẹ mái tóc bết mồ hôi của Cường, khẽ thở dài, giọng trầm ngâm như tự nói với mình: — Sương… là ai vậy con? Má con nữa. Con phạm cái tội gì mà người ta lùng giết con dữ vậy… mà sao ông nhìn con, ông lại chỉ thấy một đứa nhỏ tội nghiệp. Ông ngồi thừ ra rất lâu bên ngọn đèn dầu leo lét, nhìn gương mặt kẻ lạ mặt chập chờn giữa lằn ranh sống chết. Bên ngoài, trời đã sập tối, tiếng côn trùng rỉ rả ngoài vườn thuốc. Đâu đó trong thành Cần Thơ này, hai kẻ săn người vẫn đang lầm lũi lùng sục từng bến sông, từng con hẻm. Thằng Đậu rón rén bước vào, hỏi khẽ: — Ông ơi, ổng sống nổi hôn ông? Thầy Cảnh không rời mắt khỏi chàng trai, chậm rãi đáp: — Chưa biết. Đêm nay là cửa ải sanh tử. Qua được đêm nay, hạ được cơn sốt này, thì may ra… Con đi ngủ đi. Để ông thức canh cho. Ông lại nhúng khăn, đắp lên vầng trán nóng bỏng của Cường. Ngoài kia, một đêm dài đang buông xuống đất Cần Thơ — cái đêm sẽ định đoạt số phận chàng lãng tử đất Rạch Giá, và mở ra một khúc quanh mà cả ông lang già lẫn chàng trai mê man kia đều chưa thể ngờ tới.

Bình luận (0)

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
Lãng Tử Lục Tỉnh - Chương 24: Bàn tay cứu mạng | ANCHOI1.AC – Gái gọi uy tín